|
Tiếp tục sự thành công Lễ công bố chỉ số PCI
2009 diễn ra vào sáng nay (14/01/2010), chiều nay, VCCI tiếp tục phối hợp với tạp chí Cộng sản tổ chức tọa đàm
chia sẻ kinh nghiệm trong việc cải thiện môi trường kinh doanh giữa các tỉnh,
thành phố ở Việt Nam.
Buổi tọa đàm được chia làm hai chủ đề:
Chủ đề 1:
Kinh nghiệm trong cải cách thủ tục hành chính tại các tỉnh, thành phố ở
Việt Nam (các chỉ số thành phần về gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, chi
phí thời gian, tính minh bạch, chi phí không chính thức).
Chủ đề 2:
Kinh nghiệm trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp
tại các tỉnh, thành phố ở Việt Nam.
Chủ trì buổi tọa đàm có TS
Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và ông Phạm Tất
Thắng – Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản Việt Nam.
Phát biểu khai mạc, ông Vũ Tiến Lộc cho biết "sáng nay chúng ta đã công bố xếp hạng PCI, tuy nhiên,
cái quan trọng của bảng xếp hạng lại nằm sau bảng xếp hạng. Đó là năng lực điều
hành của các địa phương. Các địa phương có chuyển biến nhanh thường là các địa
phương có điều hành tốt. Các địa phương này cũng sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm
với địa phương khác. Tọa đàm hôm nay, các địa phương có nhiều kinh nghiệm, mặc
dù chưa có thứ hạng cao trong bảng xếp hạng cũng có thể chia sẻ với các tỉnh,
địa phương bạn".
Chủ đề 1: Kinh
nghiệm trong cải cách thủ tục hành chính tại các tỉnh, thành phố ở Việt Nam (các
chỉ số thành phần về gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, chi phí thời gian,
tính minh bạch, chi phí không chính thức).
Tọa đàm sẽ tập trung vào 2 vấn đề: Thủ tục hành chính và Đào tạo nguồn nhân
lực. Đây được coi là 2 khâu quan trọng nhất góp phần nâng cao cấp điều hành của
các địa phương.
Ông Phạm Tất Thắng cho biết: Trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được
những thành công lớn trong thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp.
VN đang
trở thành nhà đầu tư hấp dẫn không chỉ ở trong mà ở cả ngoài nước. Có được những
thành quả quan trọng này, không chỉ có nỗ lực cải cách từ Chính phủ, các bộ,
ngành trung ương mà còn có vai trò ngày càng quan trọng của chính quyền các
tỉnh, thành phố, đặc biệt là nhận thức đúng của người đứng đầu các cấp ở địa
phương về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
Toàn cảnh hội trường buổi tọa
đàm
Việc nghiên cứu và công bố PCI của VCCI do Dự án Nâng cao năng lực cạnh
tranh (VNCI) nhằm góp phần ghi nhận những nỗ lực của chính quyền địa phương
trong việc cải thiện môi trường kinh doanh trong mọi lĩnh vực. Cuộc cạnh tranh
hàng năm là cuộc cạnh tranh lành mạnh. Các địa phương chúng ta không ai muốn tụt
hậu, vì vậy phải làm thế nào để chúng ta vượt lên. Tại tọa đàm, các địa phương
sẽ cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm thu hút đầu tư và phát triển doanh
nghiệp, để nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương mình.
Tại buổi tọa đàm, TS. Nguyễn Phương Bắc - Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu
tư Bắc Ninh đã đưa ra vấn đề giảm chi phí gia nhập thị trường góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Việc tiếp cận chỉ số PCI và thực
hiện cải cách đã được thực hiện thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng để các ngành
tham mưu cho UBND tỉnh các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh, góp phần
quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
TS. Nguyễn Phương Bắc - Phó Giám đốc Sở Kế
hoạch và Đầu tư Bắc Ninh chia sẻ kinh nghiệm
Trên cơ sở các giải pháp chung, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã hợp tác với
IFC/MPDF thực hiện nhiều công việc thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, tập
trung các biện pháp tác động trực tiếp đến nâng điểm các chỉ số thành phần của
PCI như sau:
- Thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” (trước khi liên Bộ Kế hoạch và Đầu
tư - Tài chính - Công an ban hành Thông tư liên tịch áp dụng rộng rãi trong cả
nước), kết qủa đã giảm thời gian gia nhập thị trường từ bình quân 30 ngày (cá
biệt có trường hợp 50 ngày) cho 3 thủ tục: đăng ký kinh doanh, khắc dấu, mã số
thuế xuống còn tối đa 7 ngày; giảm số lần đi lại của công dân trong thành lập
doanh nghiệp từ 13 lần xuống 3 lần. Mô hình “một cửa liên thông” đã tác động
tăng số lượng doanh nghiệp và số vốn đăng ký so với năm trước. Trên thực tế, mô
hình này khi thực hiện đầy đủ tạo ra tác động kép đến 3 chỉ số thành phần: chi
phí thời gian, chi phí không chính thức, nâng cao tính minh bạch.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư đã cải tiến hoạt động đăng ký kinh doanh để tăng
cường công khai minh bạch trong đăng ký thành lập doanh nghiệp, đảm bảo cơ sở
vật chất và bố trí địa điểm làm việc độc lập cho Văn phòng một cửa liên thông;
phối hợp với IFC-MPDF xây dựng hồ sơ hướng dẫn thành lập doanh nghiệp mềm (dạng
đĩa CD) để phổ biến rộng rãi tới người dân và đưa lên cổng giao tiếp điện tử của
tỉnh Bắc Ninh; hoàn thành sổ tay hướng dẫn thành lập doanh nghiệp.
- Triển khai Chương trình truyền thông phát triển doanh nghiệp bao gồm các
hoạt động: Điều tra, khảo sát để xác định đúng các lợi ích và rào cản trong
thành lập doanh nghiệp; tổ chức các chương trình truyền thông tại các làng nghề
xã Châu Khê (Từ Sơn), Phong Khê (thành phố Bắc Ninh) và huyện Thuận Thành; in 15
nghìn tờ rơi và các tài liệu tuyên truyền để phát đến các xã, các hộ kinh doanh
có môn bài bậc 1, 2, 3; chương trình tuyên truyền của Đài Phát thanh - truyền
hình tỉnh và toàn bộ hệ thống đài truyền thanh tại xã, phường, thị trấn trên
toàn tỉnh.
Chương trình truyền thông phát triển doanh nghiệp tại Bắc Ninh
đã được nhiều cơ quan báo chí, truyền thông quan tâm và được coi là tiếp cận mới
trong việc đưa chủ trương, chính sách về phát triển doanh nghiệp vào cuộc sống,
tạo tác động tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Ông Nguyễn Thanh Nguyên - Phó Chủ tịch
UBND tỉnh Long An chia sẻ những kinh nghiệm của tỉnh
Tiếp theo, ông Nguyễn Thanh Nguyên - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An chia sẻ
những kinh nghiệm của tỉnh mình trong việc cải thiện môi trường kinh doanh cấp
tỉnh. Trong những năm gần đây, môi trường đầu tư tại Long An ngày càng thông
thoáng, hỗ trợ tốt hơn cho nhà đầu tư trong ngoài nước. Tỉnh đã có nhiều nỗ lực
cải thiện môi trường đầu tư như: đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân
cấp, tổ chức các cuộc đối thoại thường xuyên hơn nhằm tháo gỡ khó khăn cho nhà
đầu tư; tỉnh đang nỗ lực rất lớn trong việc hoàn thiện cơ sở vật chất, hạ tầng
kinh tế, kỹ thuật; hỗ trợ giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch thuận lợi cho thu
hút đầu tư. Trong 3 năm qua, tỉnh đã nỗ lực vượt bậc nâng cao thứ hạng chỉ số
năng lực cạnh tranh PCI, năm 2008 chỉ số PCI tăng 15 thứ hạng so với năm 2007
(từ vị trí 21 lên vị trí 6) và tăng 33 thứ hạng so với năm 2006.
Cải thiện lớn nhất của tỉnh là thực hiện một đầu mối trong tiếp nhận đầu
tư, giảm đến mức tối thiểu các chi phí, thời gian thực hiện các thủ tục hành
chính và tiếp cận, sử dụng ổn định đất, thực hiện chính sách phát triển khu vực
tư nhân, tính minh bạch và tiếp cận thông tin với phương châm: “khó khăn của doanh nghiệp là khó khăn của tỉnh –
thành công của các doanh nghiệp là nhiệm vụ của chúng tôi”.
Chính sách phát triển khu vực tư nhân, huy động nguồn lực của tư
nhân cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Long An trong thời gian vừa
qua là thành công nổi bật của tỉnh, với chủ trương đúng đắn đó tỉnh đã xây dựng
được 20 khu công nghiệp, 43 cụm công nghiệp và trên 50 khu dân cư đô thị với
diện tích 15.000 ha được đầu tư bởi khu vực tư nhân. Diện tích đất cho công
nghiệp hiện có khoảng 5.000 ha đất sạch đã được xây dựng hạng tầng kinh tế kỹ
thuật sẵn sàng đón nhận các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào xây dựng, sản
xuất kinh doanh. Đây là yếu tố rất thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc tiếp
cận với đất đai, nhà đầu tư đồng ý về vị trí và giá cả khu đất và sự phù hợp với
quy hoạch ngành nghề đầu tư là cơ bản có thể tiến hành các thủ tục về xây dựng
nhà xưởng sản xuất.
Luật gia Cao Bá Khoát nêu ý
kiến tại buổi tọa đàm
Cơ chế một cửa liên thông trong đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế và
khắc dấu được tỉnh ban hành và thực hiện từ giữa năm 2006, từ đó giảm thời gian
gia nhập thị trường còn 09 ngày so với quy định là 29 ngày. Năm 2007, tỉnh Long
An đã quyết định mở rộng một cửa liên thông sang đăng ký đầu tư tạo nên môi
trường bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Hiện nay, cơ chế
một cửa liên thông trong đăng ký kinh doanh, đăng ký đầu tư, mã số thuế và khắc
dấu đã được hoàn thiện, thời gian gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp thành
lập mới giảm xuống còn 07 ngày (trong đó đăng ký kinh doanh 01 ngày, đăng ký mã
số thuế 02 ngày và khắc dấu 04 ngày). Trong 2010, sẽ tiến tới đăng ký qua mạng
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp. Đặc biệt là lượng doanh nghiệp
siêu nhỏ tại các thành phố lớn. Tại bộ phận một cửa, các sở ngành đã bố trí các
cán bộ kiểm tra sơ bộ hồ sơ, những thiếu sót được chỉnh sửa kịp thời, ngoại trừ
những sai sót quan trọng, những hồ sơ đã tiếp nhận là không bị trả lại, làm giảm
số lần đi lại của các nhà đầu tư chỉ còn hai lần, giảm hơn 30% lượng người quay
lại chỉnh sửa bổ sung hồ sơ dẫn đến áp lực xử lý hồ sơ được hạn chế ở mức thấp.
Đặc biệt, tại bộ phận một cửa của Sở Kế hoạch và Đầu tư Long An đã công khai một
số sai sót trong hồ sơ nhưng vẫn được tiếp nhận, nhà đầu tư bổ sung hoặc hoàn
chỉnh bộ hồ sơ khác đổi lại khi đến nhận kết quả thủ tục hành chính.
Ngoài việc thực hiện một cửa liên thông trong đăng ký kinh doanh, đăng ký
đầu tư, mã số thuế và khắc dấu tại Sở Kế hoạch và Đầu tư thì các sở ngành,
huyện, thành phố đã hình thành và hoàn thiện hệ thống một cửa tiếp nhận và trả
kết quả thủ tục hành chính. Các thông tin về các thủ tục hành chính được niêm
yết công khai tại bố phận một cửa nơi tiếp nhận và trao trả hồ sơ, đồng thời
trên các trang web của các sở ngành đều công bố các thủ tục hành chính, mẫu
biểu, các doanh nghiệp có thể chép, điền các thông tin theo yêu cầu mà không cần
phải đến liên hệ tại bộ phận một cửa. Kết quả rà soát thủ tục hành chính theo Đề
án 30 đã được niêm yết công khai tại bộ phận một cửa, các ngành các cấp không
được yêu cầu doanh nghiệp, nhà đầu tư nộp thêm bất cứ loại giấy tờ gì ngoài bộ
thủ tục đã được công bố. Từ việc xây dựng và hoàn thiện bộ phận một cửa trong
việc tiếp nhận hồ sơ đã tạo ra một khoảng cách nhất định giữa những người tiếp
nhận hồ sơ và người xử lý hồ sơ, đồng thời hồ sơ được xử lý thông qua nhiều công
đoạn, qua nhiều người xử lý làm kết quả thủ tục hành chính ít bị sai sót, các
công đoạn thực hiện hồ sơ được nhiều người giám sát nên tránh được việc gây khó
dễ cho nhà đầu tư, đã hạn chế được các tiêu cực có thể xẩy ra.
Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tiếp tục đổi mới và nâng cao
chất lượng giáo dục, đào tạo; các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với công
tác giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực được thực hiện tốt; xã hội hóa
lĩnh vực giáo dục, đào tạo được đẩy mạnh. Năng lực nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ, đi đôi với tăng cường chuyển giao công nghệ cho các doanh
nghiệp đã được chú trọng. Để xây dựng nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa
tỉnh nhà, Đảng bộ tỉnh Long An đã đề ra 04 chương trình hành động, trong đó có
chương trình đào tạo nhân lực, nó thể hiện ý chí quyết tâm của Đảng bộ và nhân
dân Long An xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh nhà. Hầu hết các huyện trọng điểm kinh tế của tỉnh đã được xây dựng các
Trung tâm dạy nghề, gắn công tác dạy nghề với cơ sở sản xuất, đào tạo lao động
với sử dụng lao động. Khuyến khích thực hiện đào tạo lao động ngay trong doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất, tạo điều kiện cho công nhân lao động tiếp cận thực tế
của lao động sản xuất, gắn quyền lợi của người lao động với đơn vị sử dụng lao
động.
Kêu gọi đầu tư xây dựng mới các trường cao đẳng, đại học và trung cấp đào
tạo nghề vào địa phương nhằm tạo điều kiện cho con em gia đình khó khăn được đi
học, bổ sung nguồn lực cho các doanh nghiệp. Khuyến khích và tạo điều kiện các
trường cao đẳng, đại học tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố khác
về mở trường, chi nhánh dạy nghề tại Long An. Đến nay, tỉnh Long An có 3 trường
đại học, 3 trường cao đẳng và 15 trường trung cấp nghề, chưa kể 05 trường đại
học và cao đẳng đang tiến hành các thủ tục về đất đai, xây dựng. Số lượng lao
động của tỉnh qua đào tạo khoảng 380.000 người, phấn đấu đến năm 2010 tỉnh có
50% lao động đã qua đào tạo và tỷ lệ qua đào tạo nghề là 30%. Bên cạnh chủ
trương đào tạo các bậc đại học, cao đẳng và trung cấp nghề, tỉnh còn phối hợp
với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long xây dựng chương trình có tên gọi Mekong
1000 nhằm cử và đưa đi đào tạo trình độ Thạc sỹ và Tiến sỹ, đây là những cán bộ
có trình độ cao làm nòng cốt cho độ ngũ công chức của tỉnh trong những năm
tới.
Các giải pháp và hành động cụ thể của tỉnh Long An đã và đang hỗ trợ, giúp
đỡ các doanh nghiệp trong tỉnh vượt qua khó khăn của cuộc khủng hoảng tài chính
thời gian qua:
|
Ông Lê Vĩnh Tân - Phó chủ tịch tỉnh Đồng
Tháp
|
-Ngay từ đầu năm 2009, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu tác động đến
nền kinh tế tỉnh nhà thì Tỉnh ủy Long An đã thành lập Tổ công tác đặc biệt nhằm
giúp đỡ các doanh nghiệp vượt qua sự tác động của khủng hoảng kinh tế. Tổ đã cử
các đoàn đi khảo sát, nắm tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu như: dệt, may, hạt
điều, gạo, hàng thủ công mỹ nghệ, …nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tìm
biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh
doanh.
-Định kỳ UBND tỉnh tổ chức đối thoại doanh nghiệp 6 tháng một lần, ngành
thuế và UBND các huyện tổ chức 3 tháng một lần nhằm lắng nghe ý kiến phản ảnh
của các doanh nghiệp, qua đó xử lý kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, nhân ngày doanh nhân Việt
Nam, ngày Tết Nguyên đán, UBND tỉnh đã tổ chức lễ vinh danh cho các doanh nghiệp
có thành tích trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời
là buổi gặp gỡ trao đổi thân tình giữa các cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp
trên địa bàn.
-Tăng cường kích cầu dịch vụ và tiêu dùng nội địa đồng thời với việc phát
triển mạnh hệ thống phân phối. Khuyến khích phát triển các dịch vụ có giá trị
gia tăng cao. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa
thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại,
xuất nhập khẩu.
-Thực hiện cho vay hỗ trợ lãi suất theo Chương trình kích cầu của Chính
phủ tại Nghị Quyết 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 tính đến ngày 31/11/2009 đạt
5.473 tỷ đồng, chiếm 35,29% dư nợ toàn địa bàn, số lãi tiền vay đã hỗ trợ lãi
suất là 86,2 tỷ đồng với 96.354 khách hàng được hỗ trợ. Dự kiến dư nợ cho vay hỗ
trợ lãi suất đến hết năm 2009 đạt 8.589 tỷ đồng.
-Rà soát, sửa đổi chuẩn hóa các quy định, thủ tục hành chính theo hướng tạo
thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp. Mở rộng ứng dụng công nghệ
thông tin trong hệ thống đăng ký kinh doanh, thiết lập cơ sở dữ liệu thông tin
chung về doanh nghiệp, môi trường và thủ tục đầu tư.
-Hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, từng bước đổi mới công
nghệ cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tiếp tục
tháo gỡ khó khăn về vốn, xúc tiến mở rộng thị trường cho các DNNVV. Đẩy mạnh mối
liên kết giữa các DNNVV, giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn, hỗ trợ và khuyến
khích DNNVV tham gia ngành công nghiệp phụ trợ. Ưu tiên trợ giúp doanh nghiệp
giải quyết nhiều lao động khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là lao
động nữ, lao động bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp. Khuyến khích phát
triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, đặc biệt là trong
nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển
kinh tế tập thể và hợp tác xã.
Sau bài trình bày của Chủ tịch UBND tỉnh Long An, đại biểu Cao Bá Khoát đưa
ra góp ý: Cần phải có quy trình rút ngắn đăng ký kinh doanh, tư vấn các thủ tục
hành chính, thuế, giấy phép… để giúp họ đơn giản hóa thủ tục. Để hình thành được
hiệu quả đầu tư và rút ngắn thời gian trong cải cách hành chính, chúng ta có thể
nghiên cứu trước và sau quá trình đầu tư để vận hành được cho tốt. Đây cũng là
một trong những cải cách hành chính. Theo đại biểu Quát, đối thoại qua mạng là
một cách đối thoại rất khách quan để cải cách thủ tục hành chính. Tất cả các câu
hỏi sau khi được bộ, ban, ngành, thành phố trả lời, chúng tôi sẽ xuất bản thành
một cuốn sách để những nhà tư vấn về luật thực thi, giải quyết luật pháp của
chúng ta có thể tham khảo.
Ông Cao Bá Khoát đặt ra câu hỏi: "Làm thế
nào để thực sự cải tiến thật tốt. Đây là điều tôi hết sức mong mỏi. Làm thế nào
để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN khi bước vào thị trường. Đãi ngộ của công
chức… Điều đó ít ai dám nói. Làm thế nào để đãi ngộ lao động đúng, để người ta
hết lòng với doanh nghiệp?" . Ông Khoát chia sẻ với các đại biểu: Các
công chức cần phải được trả lương cao, đãi ngộ tốt để họ hết lòng với doanh
nghiệp. Lương, thưởng phải công khai, minh bạch để họ biết, qua đó có thể đóng
góp, cống hiến hết mình cho doanh nghiệp.
Vấn đề chi phí thời gian cũng được bàn tới tại tọa đàm. Đại biểu Hồ Minh –
Viện trưởng viện Kinh tế Xã hội Đà Nẵng cho biết, chúng tôi đã thực hiện cơ chế
một cửa liên thông, đồng thời thí điểm mô hình một cửa hiện đại. Đến hết năm
2009, tỷ lệ DN khai báo qua mạng là 75%. Đây cũng là cơ sở để đánh giá xếp hạng
thủ tục hành chính công của Đà Nẵng.
Đại biểu Đồng Tháp cho biết: "Đối với cơ
sở, những người đầu tư, chúng tôi giao đất theo yêu cầu của DN. Chúng tôi gắn
kết giữa các sở, ngành có đăng ký kinh doanh với các nhu cầu của doanh nghiệp để
thống nhất, phối hợp với nhau".
Đại biểu của Long An bổ sung thêm: "Tệ
tham nhũng hiện nay ở đất nước ta khá trầm trọng. Chúng ta muốn làm việc với các
lãnh đạo cấp cao thật khó khăn. Đó là thực trạng. Để giải quyết vấn đề này tại
địa phương, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến vấn đề nhân sự, tiền lương. Những
nơi các nhà đầu tư đến làm thủ tục, nếu có nhũng nhiễu chúng tôi sẽ xử lý".
Đại biểu Thái Bình chia sẻ: "lâu nay chúng
ta vẫn nói có dự án mới cấp đất và có đất rồi mới cấp dự án. Theo tôi, nếu đã
chấp nhận cho họ đầu tư rồi thì có thể cấp đất cho họ làm dự án. Nhưng vướng
nhất là phần thu hồi, giải phóng mặt bằng, giao đất. Chúng tôi thành lập 1 bộ
phận giải quyết tồn tại vấn đề giải phóng mặt bằng và có cam kết với doanh
nghiệp về thời gian giải phóng mặt bằng".
Bà Trần Thị Đẹp – Giám đốc đầu
tư tỉnh An Giang
Vấn đề tiếp cận và sử dụng đất: Bà Trần Thị Đẹp – Giám đốc đầu tư tỉnh An
Giang báo cáo: Tổng số đầu tư của các năm qua có tăng lên. Thứ hạng cũng có cải
tiến qua các năm. Song song với các tỉnh, An Giang cũng tiến hành cải cách thủ
tục hành chính để thu hút đầu tư. Năm 2009, An Giang đứng thứ 20. Vì vậy trong
những năm tới An Giang sẽ phải nỗ lực cố gắng. Giá đất ở An Giang tương đối cao,
vì thế cải tạo mặt bằng và hồ sơ đất đai cũng phải xem xét. Trong năm qua, An
Giang cũng đã chuẩn bị 2 khu công nghiệp với khoảng 150 ha. Về vấn đề xử lý mặt
bằng đất đai, tỉnh cũng có quy định rà soát lại vấn đề đầu tư của các DN. Đối
với các khu vực đầu tư có quy hoạch chi tiết, giao cho huyện xem xét, chấp thuận
đầu tư. Các khu vực chưa có quy hoạch chi tiết, giao cho sở KHĐT, sở xây dựng,
huyện, ngành chuyên môn xem xét. Đối với các khu vực chưa có quy hoạch, sở KHĐT
cũng chủ trì với các huyện xem xét. Riêng về vấn đề quy hoạch sử dụng đất, An
Giang có cơ chế ghi nợ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp cho dân. Giá
trị sử dụng đất mỗi năm một khác. Vì vậy tỉnh cũng xem xét và xử lý theo trường
hợp đất nào, thời gian nào thì tính tiền đền bù giá đất vào thời gian đó. Về vấn
đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các nhà đầu tư tự chuyển nhượng, sang tên,
nhà đầu tư phải đóng 2 loại thuế: trước bạ sang tên và tiền sử dụng đất.
Vấn đề cải cách hành chính: Tỉnh nào cũng đang đẩy mạnh thủ tục cải cách
hành chính, từ đó có thể tìm ra khâu nào thừa, khâu nào có thể rút ngắn lại. An
Giang cũng tìm ra giải pháp một cửa thực hiện trong 5 ngày, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp đăng ký thuận lợi. Sắp tới, An Giang phải xem xét thêm về vấn
đề cải cách hành chính. Cùng với các địa phương rà soát lại các quy định, đồng
thời tìm hiểu thêm hoạt động của các địa phương xem có thể rút ngắn được các
công đoạn thừa.
Tính năng động, sáng tạo của tỉnh được thể hiện trên 3 tiêu chí: Nắm vững
sáng tạo các quy trình; Quy trình thủ tục chưa rõ, tỉnh phải làm gì cho doanh
nghiệp? Có những điểm quy định trái với thực tiễn, ko phù hợp, tỉnh có dám cùng
với doanh nghiệp tiên phong đột phá?
Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang A đang chia
sẻ
Sau khi nghe một loạt các đại biểu trình bày, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang A
chia sẻ: Có nhiều vấn đề mà các đại biểu đặt ra rất đúng vấn đề quy trình, trình
tự làm sao cho hợp lý. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề chúng ta tự nêu ra nhưng lại
không giải quyết được. Như vấn để “vượt rào”, chuyện làm con dấu trong 4 ngày.
Có lẽ Việt Nam chúng ta nghiện con dấu. Văn hóa ấy phải dẹp đi. Trên thế giới
không có chuyện ấy. Đây là quy định tự mình trói chân mình.
Đồng tình với ý kiến của đại biểu Khoát, ông Nguyễn Quang A cho rằng, chỗ
nào dịch vụ công thì cũng phải để cho chính quyền địa phương có tự chủ. Phải có
cơ chế đảm bảo người làm giỏi, ngay cả công chức phải được khuyến khích làm, thu
nhập phải khá lên.
Ông Lý Xuân Thao - Đại biểu Bình Dương khẳng định: Bình Dương cũng như các
tỉnh không thoát ly chủ trương, chính sách, thể chế mà trung ương đã ban hành.
Tuy nhiên, phải xem xét đặc thù lợi thế địa phương mình để có cách nhìn nhận,
đánh giá, xem xét, đưa lợi thế của tỉnh mình vượt lên.
Chẳng hạn như khi phát
triển KCN, năm 1991, Bình Dương chỉ sau khu chế xuất Tân Thuận TP HCM. 5 năm
sau, trung ương xem xét quỹ đất đó có đúng hay không và Trung ương cho là đúng,
tiếp tục có những lợi thế để Bình Dương phát triển.
Đối với quỹ đất, Bình Dương cũng không có vướng mắc nhiều như các địa
phương khác. Đây là một quá trình liên tục. Đến bây giờ với số lượng diện tích
và khu công nghiệp như thiện có, lãnh đạo cũng khuyến khích DN khi đầu tư vào
Bình Dương nên mạnh dạn đầu tư vào KCN vì chi phí sẽ giảm hơn so với đầu tư
ngoài KCN. Bình Dương cũng tích cực đối chiếu chỉ số giá của tỉnh ban hành với
đời sống của dân cư để tạo ra một chỉ số giá phù hợp, đồng thời tạo được quỹ đất
để tái đầu tư.
Chủ đề 2: Kinh nghiệm trong đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố ở Việt Nam
Đại biểu Lê Duy Bình - Tư vấn dự án Sáng
kiến cạnh tranh Việt Nam
(USAID/VNCI)
|
Báo cáo của ông Hồ Kỳ Minh –
Viện trưởng Viện Nghiên cứu TP Đà Nẵng nêu rõ: Năm 2009 Đà Nẵng có 2 chỉ số đứng
đầu là chỉ số gia nhập thị trường và chỉ số đào tạo lao động. Để đạt được kết
quả trên, Đà Nẵng đã thực hiện cải cách giáo dục, hoàn thành phổ cập giáo dục
trung học. Riêng đối với lĩnh vực đào tạo nghề, các ngành nghề tuyển sinh tập
trung vào các lĩnh vực thành phố đang cần như du lịch, CNTT…
Đại biểu Lê Duy Bình - Tư vấn dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam
(USAID/VNCI) đưa ra những đánh giá chất lượng khảo sát lao động trong vòng 2
tháng qua rất đáng lưu tâm.Cụ thể:
- 28% số DN được hỏi đánh giá rằng chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở nghề
tại cấp tỉnh là tốt hoặc rất tốt. 39% còn lại đánh giá là trung bình, hoặc thấp,
rất thấp.
- Năm 2009 có trên 100 ngàn việc làm cần tuyển lao động. Tuy nhiên
số người đến đăng ký tuyển dụng chỉ bằng 17% so với nhu cầu tuyển dụng. Số người
đăng ký thấp, chỉ chiếm 6% nhu cầu tuyển dụng.
- 64% lực lượng lao động chưa
được đào tạo và tới 78% thanh niên trong độ tuổi từ 20 – 24 không đạt được yêu
cầu của thị trường lao động.
- 50% DN trong và ngoài nước cho biết họ đang
thiếu lao động – một nghịch lý đối với một quốc gia có lực lượng lao động tới 48
triệu người.
Những con số này đã ảnh hưởng tới sức mạnh cạnh tranh bởi không phải ngẫu
nhiên mà lao động được gắn trong số cao nhất trong công thức tính toán PCI –
điều này hoàn toàn xuất phát từ thực tế. Lao động giá rẻ - lợi thế cạnh tranh
lớn nhất của Việt Nam đang dần mất tính hấp dẫn. Nếu không nâng cao chất lượng
lao động, các tỉnh nói riêng và Việt Nam nói chung sẽ phải đối mặt với rủi ro
như giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế,
không hỗ trợ cho sự phát triển về doanh nghiệp, đầu tư, anh hưởng trực tiếp tới
nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế và nỗ lực thoát khỏi “bẫy nước có thu nhập trung
bình”.
Một số kinh nghiệm tốt tại ba tỉnh Đà Nẵng, Bình Dương và Vĩnh Phúc mà nhóm
anh Bình khảo sát:
- Khuyến khích tăng cường đầu tư tư nhân vào lĩnh vực đào
tạo nghề.
- Coi đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực dựa trên nhu cầu là
nguyên tắc chủ đạo trong việc xây dựng và thực hiện chính sách người lao động,
đào tạo nghề.
- Thực hiện các chương trình khuyến khích nhằm thu hút giáo
viên và giảng viên dạy cho các trường và cơ sở dạy nghề và các cơ sở giáo dục
tại tỉnh.
- Chú trọng đào tạo các kỹ năng mềm cho sinh viên trong các trường
dạy nghề và các cơ sở đào tạo.
- Xây dựng các chính sách rõ ràng về việc hỗ trợ chuyển đổi nghề và đào tạo
công ăn việc làm trong các đề án thu hồi đất phù hợp với yêu cầu của người dân
và thực tiễn cuộc sống.
- Thực hiện khảo sát nghiêm túc, có chất lượng nhằm
đánh giá đúng nhu cầu đào tạo nghề hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, đảm bảo cung cấp
thông tin chính sác và đầy đủ cho quá trình ra quyết định.
- Đào tạo miễn phí
cho những người thuộc diện chuyển đổi nghề, đa dạng hóa hình thức đào tạo nghề
và chú trọng tới công tác đào tạo nghề cho lao động quá tuổi.
Ngoài ra còn có một số kinh nghiệm tốt khác tại ba tỉnh như:
- Nâng cao
hiệu quả hoạt động của dịch vụ giới thiệu việc làm, thị trường lao động, trung
tâm hoặc hội chợ việc làm.
- Xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin
thị trường lao động, và chủ động liên kết lao động với các tỉnh.
- Giải quyết
đình công và xây dựng mối quan hệ lao động thuận hòa được hết sức quan tâm.
-
Xây dựng và triển khai những chương trình và chính sách và nhằm hỗ trợ cho lao
động nhập cư.
- Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính cũng đang được chính
phủ tiến hành được coi là động lực để tiếp tục thực hiện các cải cách trong lĩnh
vực lao động.
Sau bài trình bày của ông Lê Huy Bình, đại biểu Hậu ở tỉnh Tây Ninh có đặt
câu hỏi: Trong số 20 ngàn lao động đang thiếu trầm trọng như anh đã phân tích
thì ngành nghề nào thiếu nhiều nhất? Vì đại biểu Hậu ở Tây Ninh khẳng định, nếu
không đưa được chính xác con số 20 ngàn lao động đang thiếu ở ngành nghề nào thì
chúng ta không thể tìm được cách giải quyết, thay vì đó chỉ đưa ra những con số
chung chung, thiếu cụ thể.
Và thực tế, đại biểu Bình đã không đưa ra được câu trả lời thỏa đáng cho
dại biểu Hậu đặt ra.
Ông Vũ Quốc Tuấn – Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam nêu ra thực trạng
"Khoảng mấy tháng gần đây, CP có đề án về đào
tạo nông thôn cho đến dạy nghề. Tôi cho rằng lao động không có tay nghề, không
đáp ứng được yêu cầu của chúng ta là một trong những nút cổ chai cần phải sửa.
Chúng ta đầu tư, nhưng chúng ta không quan tâm đến con người. Thầy không ra
thầy, thợ không ra thợ. Hiện chúng ta có khoảng 300 trường dạy nghề, khoảng
1.000 trung tâm dạy nghề của bộ và của tỉnh. Nhưng tình hình chung của chúng ta
vẫn là đào tạo không khớp với nhu cầu và các doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại".
Ông Vũ Quốc Tuấn – Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam
Đề án đào tạo nghề của CP cho đến năm 2010 vẫn nặng về giải ngân, tập trung
tại các trường, hệ thống của Bộ LĐ TBXH. Với 24.000 tỷ đồng kinh phí, chúng ta
phải đào tạo như thế nào. Không nên gò bó một chương trình khung như của bộ.
Chúng ta phải dùng nhiều hình thức, phương thức linh hoạt của hội phụ nữ, nông
dân, hợp tác xã để giúp cho các tổ chức đó đào tạo, đặc biệt là đào tạo trước để
chủ động cung cấp lao động cho doanh nghiệp.
Ông Vũ Hùng Dũng – Phó GĐ VCCI tại Cần Thơ cho biết: Để thay đổi một chương
trình giảng dạy là rất khó. Khi tiếp xúc với một số giảng viên giảng dạy mới
thấy một thực tế là các giảng viên này không hiểu biết nhiều về kinh doanh, lại
rất ít kiến thức về kinh tế.
Cũng theo đại biểu Dũng, khái niệm “thiếu lao động” cũng là có vấn đề.
"Vậy thật sự có phải thiếu lao động hay không?
Chúng ta vẫn nói, chúng ta đào tạo nhiều chuyên gia mà không dùng, lãng phí. Tôi
không đồng ý quan điểm này. Theo tôi, nhà nước đào tạo cơ bản, doanh nghiệp đào
tạo thích nghi, chuyên sâu để thích ứng cho loại hình doanh nghiệp của mình".
ÔngJim Winkler - Dự án USAID/VNCI đang phát biểu kinh
nghiệm
Phát biểu về những bài học kinh nghiệm, ông Jim Winkler - Dự án USAID/VNCI
bày tỏ: "Tôi muốn nói về vai trò của PCI và làm
thế nào để chúng ta có thể cải thiện được môi trường. Từ năm 2004, tôi
từ Washington đến, đội ngũ đánh giá PCI ở VN mới chỉ tiếp cận vấn đề này. Tuy
nhiên, họ rất quan tâm tới vấn đề đưa các tỉnh, thành vào hệ thống đo đạc, xếp
hạng. Lúc đó có câu hỏi đặt ra là các DN sẽ phải làm gì nếu như các tỉnh thành
bị xếp hạng quá thấp. Tuy nhiên, có người “lật lại” rằng, chúng ta phải làm thế
nào để cải thiện tốt hơn trong bối cảnh toàn cầu. Đó là thực tế của
VN".
5 năm vừa qua, mọi thứ đều thay đổi rất nhiều. Chúng ta đã có các thước đo
khác nhau về những chỉ số khác nhau. Cũng giống như bất kỳ con người nào trên
trái đất, chúng ta không thể biết được những gì xảy ra ở cách chúng ta quá xa.
Tuy nhiên, bây giờ chúng ta đã có thước đo. Vì vậy, các tỉnh có chỉ số PCI thấp
sẽ phải học hỏi kinh nghiệm của các tỉnh, thành khác để vươn lên. Họ không chỉ
phải cạnh tranh với 64 tỉnh thành mà còn phải cạnh tranh với các đất nước khác.
"Những vấn đề tồn tại ở VN chúng ta còn
phải giải quyết, phải phát triển được hệ thống các DN dân doanh, chỉ có các DN
nhỏ mới là nơi tạo ra nhiều nhất lao động cho DN VIệt Nam. Đây là yếu tố cần
thiết để DN VN phát triển. Một điều khác nữa, bạn bè đối tác của chúng ta chính
là lực lượng truyền thông, cơ quan báo chí đang lắng nghe những gì chúng ta nói
và truyền đạt tới người nghe. Lãnh đạo cơ quan các bạn cũng là những đầu cầu để
truyền tải thông tin này. Báo cáo này dù chỉ có 2 trang, nhưng truyền đạt lại
thì nó sẽ có sức lan tỏa và rất có ý nghĩa. Những vấn đề liên quan đến minh
bạch, cơ chế, kích thích… các bạn hãy phản hồi cho chúng tôi biết những kinh
nghiệm, những bài học, các ý kiến các bạn muốn đề xuất phản hồi." - ôngJim Winkler khẳng định.
Bảng xếp hạng PCI năm 2009
Các địa phương ở VN đang đối mặt với thử thách là cạnh tranh với nhau. Nếu
chúng ta chỉ giới hạnh cạnh tranh cấp tỉnh thì sẽ rất hạn chế. Vì vậy tư duy của
chúng ta sẽ phải vượt qua 1 tỉnh. Đây không phải là vấn đề cạnh tranh giữa tỉnh
này với tỉnh kia, mà chúng ta phải tạo ra một sức mạnh tổng hợp. Bản thân PCI
cũng nêu ra vấn đề cần phải nghiên cứu, xem xét để có thể đánh giá VN nói chung.
Những vấn đề này cũng được nhắc đến ở báo cáo toàn cầu. Chúng ta phải đánh giá
cạnh tranh ở tầm quốc gia để xem xem VN được đánh giá thế nào ở tầm cạnh tranh
quốc gia, để đạt được mục tiêu cuối cùng là cải thiện môi trường kinh doanh ở
VN.
|